Địa chỉ sua chua laptopsửa laptop thái hàsua chua dien nuoc uy tín, cam kết chất lượng dịch vụ. Phục vụ hơn 500000 khách hàng cả nước

Ngày 23, tháng 11 năm 2017

notice
  • Joom!Fish extension not installed correctly. Plugin not executed
  • Joom!Fish extension not installed correctly. Plugin not executed

Tin tức & Sự kiện
“2014 là năm hành động của ngành khoa học và công nghệ" PDF. In Email


Trao đổi với phóng viên nhân dịp đầu xuân Giáp Ngọ, tiến sĩ Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ khẳng định 2014 sẽ là năm hành động của ngành này, nhất là sau khi Luật Khoa học Công nghệ sửa đổi chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1.

Đổi mới tư duy

- Thưa Bộ trưởng, xin Bộ trưởng lược qua một vài thành tựu mà Bộ Khoa học Công nghệ làm được trong năm 2013?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Trong năm 2013, thành tựu quan trọng nhất chính là việc Luật Khoa học Công nghệ sửa đổi được Quốc hội thông qua.

Đạo luật này đã tiếp cận được tiêu chí của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế trong hoạt động khoa học công nghệ. Đặc biệt là việc tổ chức các đề tài, dự án về khoa học công nghệ và cơ chế đầu tư, tài chính cho khoa học công nghệ.

Qua Luật, lần đầu tiên chúng ta buộc doanh nghiệp nhà nước phải có trách nhiệm đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ thông qua việc dành một phần lợi nhuận trước thuế để thành lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ của doanh nghiệp. Đây cũng là lần đầu tiên Bộ Khoa học Công nghệ được giao thẩm quyền trong việc phân bổ dự toán ngân sách hàng năm cho khoa học công nghệ và cũng là lần đầu tiên cho phép áp dụng cơ chế của Quỹ phát triển khoa học công nghệ trong việc tài trợ cho các đề tài, dự án nghiên cứu, khoán chi đến sản phẩm cuối cùng cho các đề tài, dự án. 

Như vậy, sắp tới các nhà khoa học sẽ được tạo điều kiện thuận lợi hơn để có thể có được những đề tài dự án chất lượng tốt, có kết quả đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội. 

Trong năm 2013, các viện nghiên cứu lớn, các trường đại học và toàn ngành cũng có được những đề tài, dự án có kết quả tốt. Ví dụ như việc lần đầu tiên chúng ta công bố bản đồ gene của 36 giống lúa bản địa Việt Nam, điều này giúp cho khâu tạo giống, cải tạo giống mới có năng suất cao… Hoặc, trong lĩnh vực công nghệ, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đang tiến hành đóng giàn khoan 120m nước (sau khi thành công với giàn khoan 90m nước)…

Bên cạnh đó, năm 2013 cũng chứng kiến nhiều mô hình ứng dụng khoa học công nghệ thành công như mô hình của Công ty Bảo vệ thực vật An Giang. Chúng ta đã làm chủ được một số giống cây, giống con nhập ngoại mà hiện nay đang phát triển rất tốt (cam không hạt, hoa lan…).

Ở lĩnh vực công nghệ sinh học, các nhà khoa học của Việt Nam cũng đã giải quyết thành công việc xử lý đất bị nhiễm dioxin do chiến tranh gây ra. Bên cạnh đó, số những công bố khoa học quốc tế của Việt Nam có tỷ lệ trích dẫn cao. Theo Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, Việt Nam đứng thứ 76/142 quốc gia về năng lực đổi mới sáng tạo trong khi nếu xét về kinh tế thì chúng ta đứng thứ 132. Việt Nam cũng là quốc gia được xếp hạng thứ 57 trên thế giới về công bố quốc tế và trích dẫn công bố quốc tế….

Năm 2013 cũng chứng kiến nhiều nguồn đầu tư cho khoa học công nghệ (ngoài phần ngân sách 2% hàng năm). Đó phải kể đến Tập đoàn Viễn thông quân đội (Viettel) dành 10% lợi nhuận trước thuế, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam dành khoảng 2.000 tỷ và nhiều đơn vị khác trong và ngoài nhà nước đã dành kinh phí cho Quỹ phát triển khoa học công nghệ. Từ Quỹ ấy, họ mời các nhà khoa học tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sản xuất và gặt hái được những thành công đáng kể như Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông…

Việc đầu tư thông qua hợp tác quốc tế cũng rất tốt. Năm 2013, chúng tôi cũng khởi động dự án FIRST do World Bank tài trợ 100 triệu USD và vốn đối ứng của Việt Nam là 10 triệu USD; dự án đổi mới sáng tạo Phần Lan-Việt Nam giai đoạn hai là 10 triệu Euro…

- Rõ ràng năm 2013 ngành khoa học công nghệ gặt hái khá nhiều thành công, nhưng có vẻ như Bộ trưởng còn trăn trở trước nhiều việc dang dở…?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Đúng vậy! Trăn trở lớn nhất của chúng tôi là việc xây dựng nền tảng pháp lý cho khoa học công nghệ còn khó khăn. Mà cái khó khăn lớn nhất chính là việc đổi mới tư duy của các cơ quan quản lý. 
Mà điều này thì cần sự vào cuộc của giới truyền thông để làm thay đổi tư tưởng của họ (cười).

Thực ra những cái gọi là đổi mới trong khoa học công nghệ của chúng ta thì với cộng đồng thế giới đã áp dụng từ rất lâu rồi. Tôi ví dụ như thế giới khoán và chỉ kiểm soát đầu ra, tức là chú ý đến sản phẩm cuối cùng. Và, họ chỉ cần biết sản phẩm cuối cùng của anh là cái gì từ tiêu chí, thông số, thị trường. Nếu nhà khoa học làm được, họ sẽ cho quyết toán chỉ bằng vài tờ chứng từ chứ không phải là cả tập hóa đơn dầy cộp như của chúng ta hiện nay.

Một vấn đề nữa chính là việc sau khi Luật Khoa học Công nghệ sửa đổi được thông qua, chúng tôi bắt tay ngay vào việc xây dựng những Nghị định để hướng dẫn và nhiều văn bản dưới Luật. Nhưng mất nửa năm qua chúng tôi mới hoàn thành được 5 Nghị định mà vẫn còn nhiều ý kiến chưa đồng thuận.

Chúng ta có đủ “vũ khí”

- Để có được đạo luật sửa đổi với nhiều cải tiến đã là điều khó. Nhưng, để nó thực sự phát huy đúng vai trò của mình trong cuộc sống thì còn khó hơn rất nhiều, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Đúng là việc đưa chính sách vào cuộc sống là vô cùng khó, mà cái khó lớn nhất như tôi đã nói chính là tư duy của người quản lý và thêm nữa là sự phối hợp, thống nhất hành động của các cơ quan liên quan.

Tôi lấy ví dụ, từ năm 2005 Chính phủ đã có Nghị định về cơ chế tự chủ, cho phép tổ chức khoa học công nghệ được quyền kinh doanh như doanh nghiệp, được cấp giấy chứng nhận đăng ký sản xuất kinh doanh nếu có nhu cầu. Thế nhưng, do các văn bản không đồng bộ nên các Sở Kế hoạch và Đầu tư không chịu cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh….

Bộ Khoa học Công nghệ rất nỗ lực phối hợp cùng các Bộ, ngành liên quan để ban hành các văn bản đồng bộ và tuyên truyền tập huấn cho mạng lưới ở cơ sở và các ngành khác cũng phải như vậy. Có thế, chúng ta mới tránh khỏi việc Chính phủ ra Nghị định, nhưng không có văn bản và tập huấn cấp Bộ thì cấp dưới không thực hiện.

- Bộ trưởng có nói, năm 2012 là năm khởi động, năm 2013 là năm bản lề, vậy còn năm 2014 sẽ là năm gì của ngành KHCN?

Bộ trưởng Nguyễn Quân: Năm 2014 sẽ là năm hành động!

Theo dự kiến, trong quý I sẽ ban hành toàn bộ Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật KHCN sửa đổi và quý II sẽ bắt đầu thực hiện.

Khi chúng ta có đủ “vũ khí” là Luật, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư và tiền (từ nguồn đầu tư trong nước, nước ngoài) đã sẵn sàng rồi thì phải hành động. 

Trong 2014, chúng tôi sẽ tập trung vào các giải pháp lớn như đầu tư của ngân sách Nhà nước, ngân sách của doanh nghiệp dành cho khoa học công nghệ phải tăng trưởng có hiệu quả. 2014 là năm đầu tiên các tập đoàn Nhà nước, các tổng công ty phải bỏ tiền ra đầu tư cho khoa học công nghệ từ, ít nhất từ 3-8% lợi nhuận, tối đa là 10% lợi nhuận trước thuế...

Quan điểm của Bộ Khoa học Công nghệ là sẽ chỉ chi ngân sách nhà nước vào chỗ nào xã hội không đầu tư, vào chỗ phải có hiệu quả chứ không phải dùng ngân sách rải đều, mỗi địa phương một ít bởi như vậy rất lãng phí nguồn lực. Tôi cho rằng, ở đâu làm tốt là phải đầu tư nhiều, đâu không làm tốt-kể cả các Bộ- nếu sử dụng tiền không hiệu quả thì phải cắt giảm.

Ngoài ra, Bộ sẽ tập trung vào các chương trình khoa học công nghệ quốc gia, tiến tới giảm bớt chương trình trọng điểm cấp Nhà nước (KC, KX). 

Trước đây, chúng ta có 10 chương trình trọng điểm cấp Nhà nước về khoa học công nghệ và 4 chương trình trọng điểm về xã hội và nhân văn. Tuy nhiên, do cách quản lý và quan niệm của giới khoa học nên các sản phẩm từ các chương trình này không theo chuỗi, mà dàn trải. Tức là ai có nhu cầu thì đề xuất hỗ trợ nghiên cứu chứ không ghép lại với nhau thành sản phẩm chủ lực.

Mấy năm qua, Bộ Khoa học Công nghệ đã điều chỉnh, trình Thủ tướng phê duyệt các chương trình quốc gia. Đây là tổ hợp các đề tài dự án mà hướng đến mục tiêu là làm được sản phẩm quốc gia. Ví dụ như việc phải làm sao để chúng ta có được thương hiệu gạo Việt Nam trên trường quốc tế…

Cuối cùng, nhân dịp năm mới Giáp Ngọ, tôi xin gửi tới độc giả Báo điện tử Vietnam+  lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Chúc mỗi người chúng ta đều thấm nhuần tinh thần khoa học công nghệ, để khoa học công nghệ thực sự đi vào cuộc sống và trở thành quốc sách hàng đầu của đất nước.

- Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng và chúc Bộ Khoa học Công nghệ sẽ có một năm hành động quyết liệt và hiệu quả, để khoa học công nghệ thực sự trở thành đòn bẩy chính của nền kinh tế!./.

Nguồn tin: Vietnamplus.vn
"Cần đẩy mạnh đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp" PDF. In Email
Theo Cục trưởng Cục ứng dụng và Phát triển công nghệ Tạ Việt Dũng cần phải có các giải pháp quyết liệt và mạnh mẽ để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các ngành, các lĩnh vực đặc biệt là khu vực doanh nghiệp, khu vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ.

Hướng tiếp cận trình độ KH&CN thế giới

Ông Tạ Việt Dũng, Cục trưởng Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ cho biết, để có thể nhanh chóng bắt kịp được các nước phát triển khác trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần phải có những cách đi đặc biệt để tiếp cận được với trình độ khoa học và công nghệ của thế giới, áp dụng vào Việt Nam để tạo nên những đột phá về phát triển của các ngành kinh tế kỹ thuật. Bên cạnh việc đầu tư dài hơi để nghiên cứu từ cơ bản tất cả các vấn đề của kỹ thuật, chúng ta cần có những bước đi mới, đột phá mà các nước đi trước như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc đã rất thành công cách đây 20, 30 năm, đó là “giải mã công nghệ”.

Có nhiều quan điểm về giải mã công nghệ, theo đó có nhiều phương pháp để giải mã công nghệ. Quan điểm chính thống nhất là “mua công nghệ”. Có quan điểm cho rằng sao chép “y như thật” cũng là giải mã công nghệ - mua một sản phẩm tương tự, tháo ra nghiên cứu và chế tạo các sản phẩm tương tự… Chuyển giao công nghệ hoặc mua bản quyền công nghệ cũng là một quan điểm khác của giải mã công nghệ.

Ông Tạ Việt Dũng nêu ra, giải mã công nghệ được tiến hành ở các nước đang phát triển có thể định hình theo các bước sau: sao chép công nghệ; hoàn thiện công nghệ; làm chủ công nghệ và sáng tạo công nghệ. Kinh nghiệm quốc tế đặc biệt là những nước ở châu Á đã có sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa thần kỳ cho thấy không thể bỏ qua việc xây dựng một nền khoa học và công nghệ vững chắc. Quá trình tích lũy công nghệ này không thể bỏ qua con đường chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Đây là một quá trình dài hơi, đòi hỏi có tính đồng bộ cao trong quy trình từ tìm kiếm – giải mã – nhập khẩu – làm chủ và đồng bộ trong sự gắn kết với các chương trình hỗ trợ khác. Bên cạnh đó, kinh nghiệm cũng cho thấy mỗi nước đã có những chiến lược riêng trong việc giải mã và làm chủ công nghệ từ nước ngoài.

Trung Quốc là một quốc gia đã thành công từ việc mua sản phẩm tương tự, tháo ra nghiên cứu và chế tạo các sản phẩm tương tự. Hiện nay, Trung Quốc có thể chế tạo được tất cả các sản phẩm khoa học và công nghệ trình độ từ thấp đến cao, chất lượng tốt và giá thành chỉ vào khoảng 20-50% so với chính hãng.

Đài Loan vươn lên thành một quốc gia hàng đầu về công nghệ nhờ việc mua bản quyền công nghệ từ Mỹ và Nhật để phát triển. “Made in Taiwan” là một thương hiệu lớn trên thị trường công nghệ thế giới hiện nay.

Nhật Bản cũng đã phát triển nền công nghiệp của mình thông qua việc mua các công nghệ rồi cải tiến sao cho phù hợp với sản phẩm, văn hóa của từng vùng khách hàng. Hàn Quốc sau khi đạt được những năng lực công nghệ nhất định đã khuyến khích các tập đoàn tiến hành lập các công ty con và các cơ sở R&D ở nước ngoài để nâng cao hơn nữa khả năng nắm bắt các công nghệ tiên tiến, khả năng hợp tác với quốc gia bản địa trong phát triển các hướng nghiên cứu công nghệ.

Thúc đẩy hoạt động giải mã làm chủ công nghệ tại Việt Nam

Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển năng lực công nghệ nội sinh đang gặp phải những khó khăn thì việc nhập khẩu công nghệ tiên tiến từ nước ngoài để thích hợp và làm chủ càng trở nên đặc biệt quan trọng. Điều này có vai trò chủ đạo trong việc kịp thời đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển của doanh nghiệp, góp phần nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ quốc gia, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia một cách bền vững.

Đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp và ngành kinh tế cần được chú trọng

Chia sẻ về vấn đề này, ông Tạ Việt Dũng cho biết, thực tế nhu cầu nhập khẩu công nghệ và thiết bị của các doanh nghiệp Việt Nam khá lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn thiên về nhập khẩu thiết bị máy móc hơn đi sâu vào phần công nghệ để nghiên cứu, thích hợp và tiến tới làm chủ, sáng tạo công nghệ. Công nghệ được mua bán chủ yếu trên thị trường là thiết bị, máy móc và dây chuyền công nghệ toàn bộ. Các giao dịch mua bán công nghệ ở dạng tài sản trí tuệ như các pa-tăng, li-xăng và bí quyết công nghệ còn hạn chế. Mặt khác, công nghệ nhập khẩu còn lạc hậu trong khi năng lực hấp thu công nghệ còn thấp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam tập trung nhiều kinh phí cho hoạt động nhập khẩu, mua bán thiết bị thay vì tập trung kinh phí cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và triển khai hay làm chủ công nghệ.

Các doanh nghiệp Việt Nam đang đối đầu với những thách thức to lớn trong việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Thứ nhất là, năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của các viện nghiên cứu và trường đại học chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Thứ hai là, do hạn hẹp về tài chính, rất ít doanh nghiệp trong nước có khả năng nhập công nghệ dưới dạng sáng chế, thiết kế, giải pháp công nghệ, bí quyết kỹ thuật. Thứ ba là, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nhập khẩu máy móc, thiết bị để ứng dụng trực tiếp vào sản xuất – kinh doanh. Thứ tư là, nhiều doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ chưa quan tâm đầu tư thích đáng để thích nghi công nghệ nhập khẩu nên hiệu quả ứng dụng còn thấp. Cùng với đó là do thiếu thông tin, kỹ năng, kinh nghiệm trong việc tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn công nghệ nhập thích hợp, đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ…

Theo PGS.TS. Tạ Cao Minh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Sáng tạo Công nghệ, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, quy trình triển khai hoạt động giải mã công nghệ đòi hỏi phải có đầu tư và sự quan tâm phối hợp đồng bộ của nhiều thành phần như hành lang pháp lý, quản lý nhà nước về hoạt động giải mã; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong điều kiện Việt Nam, để phát triển các hoạt động giải mã công nghệ thì hoạt động giải mã sẽ theo nguyên tắc chủ động tìm kiếm công nghệ trên thế giới có tính ứng dụng cao, phù hợp với chiến lược phát triển của Việt Nam để nghiên cứu, cải tiến, tạo ra những sản phẩm công nghệ trong điều kiện Việt Nam, giúp giảm giá thành đầu tư cho công nghệ mới và làm chủ được các công nghệ hiện đại. Tận dụng nguồn cơ sở dữ liệu phong phú từ những pa-tăng không được bảo hộ tại Việt Nam.

Ông Tạ Cao Minh cho rằng các lĩnh vực công nghệ nên được ưu tiên là cơ khí chế tạo, cơ điện tử; tự động hóa công nghiệp; công nghệ thông tin; quốc phòng và an ninh; các thiết bị dân dụng; các phương tiện giao thông.

Tìm hiểu và hấp thụ công nghệ thông qua các hoạt động giải mã, từ đó có thể ứng dụng, tiến tới làm chủ và sáng tạo công nghệ là một xu hướng được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Sức ép gia tăng nhu cầu phát triển nội tại của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, việc triển khai các chương trình khoa học và công nghệ mang tầm quốc gia nhằm thúc đẩy tốc độ và hiệu quả đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp, các ngành kinh tế là hết sức cần thiết và cấp bách.

Nguồn: truyenthongkhoahoc.vn

 

Hội thảo khoa học về Đánh giá trình độ công nghệ Lạng Sơn 2013 PDF. In Email

Ngày 20/12/2013, tại Lạng Sơn, Trung tâm Hỗ trợ chuyển giao công nghệ, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ (Bộ KH-CN) phối hợp với Sở KH-CN tỉnh Lạng Sơn tổ chức buổi hội thảo khoa học đánh giá trình độ công nghệ một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Dự hội thảo có đại diện lãnh đạo Sở KH-ĐT, Sở Công thương, Sở Xây dựng, Văn phòng UBND tỉnh…, và 30 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

Tại hội thảo, lãnh đạo Sở KH-CN Lạng Sơn đã báo cáo quá trình khảo sát thực tế về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp. Theo đó, thời gian qua, Sở KH-CN phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ chuyển giao công nghệ đã lựa chọn 30 doanh nghiệp thuộc 4 nhóm ngành, lĩnh vực: khai thác khoáng sản, công nghiệp sản xuất (chế biến nông lâm sản), công nghiệp sản xuất (vật liệu xây dựng, cơ khí, điện), công nghiệp phụ trợ. Qua khảo sát thực tế, điểm trình độ công nghệ của các doanh nghiệp của Lạng Sơn chỉ đạt mức trung bình, một số chỉ đạt điểm trình độ công nghệ thấp.

Tại hội thảo này, đại diện các doanh nghiệp và đại diện ngành khoa học đã cùng thảo luận, góp ý kiến nhằm bổ sung thêm một số các tiêu chí đánh giá. Qua thảo luận, đại diện các doanh nghiệp đề nghị cần có một sự thống nhất về các phương pháp đánh giá, tiêu chí, chuẩn so sánh và thang điểm để việc đánh giá trình độ công nghệ được tiến hành chính xác hơn và dựa trên cùng một mặt bằng, từ đó việc so sánh các kết quả đánh giá giữa các doanh nghiệp cùng lĩnh vực hay giữa các lĩnh vực khác nhau mới có ý nghĩa. Các doanh nghiệp đều khẳng định, buổi hội thảo khoa học này đã giúp các doanh nghiệp thấy được hiện trạng công nghệ của mình để có kế hoạch đổi mới công nghệ, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giá trị của những sản phẩm do chính doanh nghiệp mình sản xuất ra.

Nguồn "Báo Lạng Sơn"

Sự kiện KH&CN tháng 11/2013 PDF. In Email

 

 

Sự kiện KH&CN tại MDEC Vĩnh Long 2013 với Chủ đề “Kết nối cung - cầu công nghệ phục vụ phát triển kinh tế bền vững” – “Vinhlong TechDemo 2013” do Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) chủ trì, phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và UBND tỉnh Vĩnh Long tổ chức trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long - MDEC Vĩnh Long 2013 nhằm mục đích: Kết nối cung - cầu công nghệ giữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ; đặt hàng nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ theo nhu cầu của các địa phương; xúc tiến, quảng bá kết quả nghiên cứu, ý tưởng có khả năng ứng dụng, thương mại hóa cao cho các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Đọc thêm...
«Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối»