Địa chỉ mua bán điện thoại vertu chinh hang và Đăng ký dịch vụ thiet ke web, thue vpssua chua dien nuoc uy tín, cam kết chất lượng dịch vụ. Phục vụ hơn 500000 khách hàng cả nước

Ngày 26, tháng 05 năm 2017

notice
  • Joom!Fish extension not installed correctly. Plugin not executed
  • Joom!Fish extension not installed correctly. Plugin not executed

Tin tức & Sự kiện
Nghiên cứu tạo bê sữa cao sản bằng kỹ thuật chia tách phôi PDF. In Email
Năm 2015, nhóm nghiên cứu do ThS. Quản Xuân Hữu tại Viện Chăn nuôi dẫn đầu, đã gặt hái nhiều thành công trong việc tạo bê sữa cao sản bằng kỹ thuật chia tách phôi.
alt
Phương pháp nhân bản phôi động vật có vú sớm nhất là tách đôi phôi. Willadsen (1979), là tác giả đầu tiên nghiên cứu tách phôi đôi cừu giai đoạn phôi 2 tế bào tạo ra hai cừu giống nhau. Nghiên cứu đầu tiên này giúp tác giả khẳng định rằng mỗi phôi bào đều có khả năng phát triển thành phôi, thành cơ thể động vật bình thường. Đầu những năm 1980, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu cắt phôi ở giai đoạn muộn hơn. Ở bò, phôi được thu hoạch và cắt đôi ở giai đoạn phôi dâu muộn và phôi nang sớm. Điều này cho phép số trường hợp bò có chửa do cấy phôi cắt tăng lên đáng kể. Chia, tách phôi làm tăng số lượng phôi từ một phôi ban đầu, nếu những phôi này có phẩm chất giống cao thì nhân bản làm gia tăng về mặt số lượng các bản sao như vậy giúp cho người chăn nuôi tăng năng suất và thu nhập. Các bê sinh ra từ phôi sau khi chia tách có bản chất di truyền hoàn toàn giống nhau là mô hình động vật lý tưởng để sử dụng cho các nghiên cứu cơ bản khác như: Nghiên cứu chính xác ảnh hưởng của một số yếu tố nào đó của ngoại cảnh tới năng suất hay kiểu hình của vật nuôi có cùng kiểu gen. Chia, tách phôi giúp cho việc xác định giới tính sớm của phôi trước khi cấy, góp phần nâng cao hiệu quả của người chăn nuôi. Như vậy, chia, tách phôi vừa có ý nghĩa trong thực tế sản xuất, vừa phục vụ đắc lực cho một số nghiên cứu cơ bản.

Nghiên cứu đã thu được nhiều kết quả khả quan như:
- Thu trứng trên bò sữa cao sản bằng phương pháp siêu âm buồng trứng, trung bình mỗi buồng trứng thu được 8,5 tế bào trứng, trong đó có 7,2 tế bào trứng đạt chuẩn, đạt tỷ lệ 84,64%.
- Môi trường nuôi thành thục in vitro TCM 199 + FCS + FSH mang lại hiệu quả cao cho quá trình nuôi thành thục in vitro tế bào trứng bò, tỷ lệ tế bào trứng bò thành thục in vitro đạt 89,25%.
- Tỷ lệ phân lập thành công nguyên bào sợi thai chuột và tế bào ống dẫn trứng bò tương ứng đạt: 81% và 58%.
- Tỷ lệ chia đôi phôi thành công đạt: 88,54%; tỷ lệ các cặp nửa phôi được chia thành công từ một phôi ban đầu cùng phát triển in vitro sau chia đạt: 30,8%. Có thể sử dụng phôi bò ở ba giai đoạn: phôi dâu muộn, phôi nang sớm, phôi nang để tạo phôi bằng phương pháp chia phôi.
- Tỷ lệ tách thành công các tế bào phôi của bò in vitro ở giai đoạn 2, 4, 8 và 16 tế bào tương ứng đạt: 78%; 64,5%; 61% và 35,25%. Tuy nhiên, không có tế bào phôi nào phát triển đạt tới giai đoạn cấy truyền (phôi dâu, phôi nang).
- Sử dụng phương pháp CIDR - GnRN - PGDF 2α - GnRN để gây động dục đồng pha cho bò nhận phôi cho tỷ lệ rụng trứng cao, đạt 96,55% so với tổng số bò động dục và tỷ lệ thể vàng chất lượng tốt đạt 92,77% so với tổng số bò rụng trứng.
- Hai bê sinh ra bằng kỹ thuật chia tách ký hiệu B1826, B295 có quan hệ mẹ - con với bò cho ký hiệu B816 nhưng chúng không có quan hệ về mặt di truyền đối với hai bò nhận phôi (mang thai) B1517 và B1505, chứng tỏ việc chia phôi tạo bê thành công.

Tạo ra nhiều giống phôi bằng phương pháp chia, tách phôi mang các đặc tính di truyền quý sẽ giúp người chăn nuôi giảm thời gian gây dựng đàn, tăng năng suất các sản phẩm chăn nuôi qua đó, nâng cao thu nhập. Tạo phôi bò bằng phương pháp chia, tách phôi có ý nghĩa quan trọng đối với ngành chăn nuôi vì công nghệ này không chỉ có khả năng tạo ra một số lượng lớn phôi tốt mang tính trạng mong muốn, mà còn góp phần bảo vệ và phát huy nguồn gen quý hiếm bản địa.

Có thể tìm đọc toàn văn Đề tài (Mã số 11509/2015) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia./.


 

Hỗ trợ Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp cho các trường đại học PDF. In Email
Nhằm thúc đẩy vai trò của các các cơ sở giáo dục đào tạo, Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan, Giai đoạn 2 (IPP2) sẽ hỗ trợ các trường đại học Việt Nam phát triển đào tạo về Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp.

alt
Các chuyên gia IPP giới thiệu Chương trình Đổi mới sáng tạo trong một lần làm việc tại TPHCM (Ảnh: IPP) 

Với mục tiêu thúc đẩy vai trò của các các cơ sở giáo dục đào tạo trong hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp quốc gia, trong chương trình hỗ trợ này, IPP2 sẽ cung cấp các hỗ trợ bao gồm chương trình đào tạo tập trung cho giảng viên nguồn, cung cấp học liệu (nội dung, công cụ cũng như phương thức triển khai) và nội dung đào tạo kèm với các hỗ trợ nâng cao năng lực, giới thiệu các chuyên gia và tổ chức đối tác quốc tế. Đây là chương trình đào tạo mở và sẽ được tiếp tục phát triển theo nhu cầu của mỗi đơn vị đối tác.

Chương trình dành cho các trường đại học và các cơ sở giáo dục đào tạo, không phân biệt công lập hay tư nhân. Nếu là cơ sở đào tạo nước ngoài cần có giấy phép hoạt động chính thức tại Việt Nam.

Để biết thêm thông tin chi tiết và tải về mẫu đề xuất vui lòng truy cập trang web của IPP: http://ipp.vn/hoat-dong-ipp/cop-unicollab/ )

Đề xuất phải được viết bằng tiếng Anh, bản mềm gửi đến hòm thư Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. , bản in gửi đến Văn phòng IPP qua đường bưu điện muộn nhất là ngày 09/05/2016.

Chương trình Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (IPP) là chương trình hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được đồng tài trợ bởi Chính phủ Việt Nam và Phần Lan. Cơ quan chủ quản của IPP là Bộ Khoa học và Công nghệ, đại diện cho Chính phủ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Phần Lan, đại diện cho Chính phủ Phần Lan. Chương trình đang triển khai giai đoạn 2, từ năm 2014 đến năm 2018.


Nguồn:  Minh Châu, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN

 

Áp dụng khoa học công nghệ để nâng giá trị nông sản Việt PDF. In Email
Nông sản xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn dưới dạng thô là chính, chi phí đầu vào cao và đâu đó còn thiếu bóng dáng của công nghệ.
Bà Vũ Kim Hạnh - Chủ tịch Hội doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao đã phát biểu như vậy tại hội thảo: "Thúc đẩy ứng dụng, đổi mới công nghệ nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp khu vực Nam Bộ" được thực hiện trong khuôn khổ sự kiện “Trình diễn và kết nối cung-cầu công nghệ khu vực Nam Bộ”, tổ chức ngày 5-6/11 tại Tp. Vũng Tàu.
Tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng cho biết: “Nông nghiệp Việt Nam luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần ổn định chính trị xã hội. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đứng đầu về xuất khẩu một số nông sản. Việc tạo chuỗi giá trị nông sản bền vững, nâng cao vị thế nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến nông sản là việc rất quan trọng”.
Đồng tình với nhận định này, tại hội thảo nhiều ý kiến của giới chuyên môn cho rằng khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do TPP, sản phẩm nông nghiệp trở thành mặt hàng quan trọng trong khi việc nâng cao chuỗi giá trị vẫn đang gặp nhiều vướng mắc.
Đặc biệt, mối liên kết giữa nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà nông và nhà khoa học vẫn chưa được như mong muốn. Đặc biệt còn thiếu sự góp mặt của các công nghệ cao trong lĩnh vực này.
Tình trạng thanh long đổ đống ven đường hoặc bán với giá rẻ mạt không phải là hiếm đối với nhiều nông sản Việt
Tình trạng thanh long đổ đống ven đường hoặc bán với giá rẻ mạt không phải là hiếm đối với nhiều nông sản Việt
Theo bà Hạnh, hiện việc phát triển nông nghiệp ở Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, nông sản xuất khẩu dưới dạng thô là chính, chi phí đầu vào cao và đâu đó còn thiếu bóng dáng của công nghệ. Thêm vào đó, chất lượng nông sản không đồng đều, thiếu kho tồn trữ bảo quản, công nghệ chế biến còn lạc hậu, vẫn thiếu vắng những công ty lớn chuyên phân phối nông sản, công tác xúc tiến thương mại cũng chưa thực sự chuyên nghiệp.
"Tất cả những lý do đó đã và đang làm giảm giá trị xuất khẩu nông sản Việt. Vì vậy hơn lúc nào hết cần có sự tham gia của doanh nghiệp và việc áp dụng khoa học công nghệ mới có thể đẩy giá trị nông sản Việt lên tầm cao hơn", bà Hạnh diễn giải.
Vì vậy bà Hạnh cho rằng các doanh nghiệp cần mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, cần tìm hiểu xu hướng của người tiêu dùng thế giới và trong nước hiện nay để tạo ra sản phẩm phù hợp với khả năng kinh tế cũng như sở thích của họ.
"Áp dụng khoa học công nghệ ở đây không chỉ là công nghệ sản xuất mới mà cũng cần chú trọng giải pháp về quản lý nhằm giảm bớt chi phí, từ đó giảm giá thành sản phẩm", bà Hạnh nhấn mạnh.
TS.Nguyễn Văn Hòa - Viện Cây ăn quả miền Nam thì cho rằng cần đẩy mạnh hơn nữa cơ giới hóa trong sản xuất bởi từ kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy, một khi thực hiện tốt cơ giới hóa nông nghiệp, hiệu quả sản xuất tăng đáng kể.
"Đối với các vườn cây ăn trái ở Việt Nam, hoàn toàn có thể áp dụng các loại xe cơ giới loại nhỏ phục vụ phun xịt và vận chuyển quả. Để làm được việc này, vườn cây ăn trái cần được thiết kế có kế hoạch và có hệ thống ngay từ đầu, việc tạo tán và cắt tỉa cành cũng phải tuân theo kỹ thuật nhất định. Có như vậy, công tác quản lý vườn, quản lý sâu bệnh và chăm sóc quả mới có thể thực hiện được một cách khoa học", ông Hòa nói.
Cũng từ thực tế này thông qua hội thảo Bộ KH&CN mong muốn sự tham gia của các nhà quản lý, khoa học và doanh nghiệp nhiều hơn nữa, gắn bó với nông dân để có thể đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ, tiến bộ của khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao giá trị của nông sản Việt.
Nguồn: khoahocphattrien.vn
Bỏ túi 7 tỷ đồng mỗi năm nhờ trồng chuối nuôi cấy mô PDF. In Email
Thay vì trồng chuối theo phương pháp truyền thống, anh Phạm Năng Thành đã mày mò, tìm kiếm cây giống từ nuôi cấy mô để tăng năng suất cây trồng.
Chuối nuôi cấy mô cho năng suất cao hơn 20–30%
Nhờ trồng chuối nuôi cấy mô anh Thành xây được nhà lầu, sắm xe hơi và có cơ ngơi mà nhiều người mơ ước. Hiện sản phẩm từ chuối cấy mô đang trên đường “xuất ngoại” và thị trương trong nước cũng hào hứng đón nhận.

Anh Phạm Năng Thành (SN 1979, xã Đại Tập, huyện Khoái Châu, Hưng Yên) được biết đến là người trồng chuối thành công nhất tỉnh Hưng Yên. Trước khi có được cơ ngơi của một “ông vua” chuối tiêu hồng như hiện tại anh đã có một quãng thời gian dài bươn trải kiếm sống trên thành phố. Anh từng làm xe ôm rồi làm phụ hồ cho các công trường xây dựng. Năm 2003, anh trở về quê với quyết tâm làm giàu trên chính thửa ruộng của mình.

Năm 2006, khi được biết Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ (KH&CN), Sở KH&CN tỉnh Hưng Yên phối hợp với Viện Nghiên cứu rau quả triển khai mô hình trồng thử nghiệm chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô tại vùng đất bãi Khoái Châu cho kết quả rất tốt, hiệu quả kinh tế cao gấp 3-4 lần so với các cây trồng khác, anh Thành từng bước lân la tìm hiểu mô hình trên và tập trung vào đầu tư, áp dụng kỹ thuật trồng chuối tiêu hồng, chuối tây từ cây giống cấy mô.

Các nghiên cứu và mô hình thực nghiệm cho thấy, với giống chuối tiêu hồng được nhân bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào, trong điều kiện trồng thâm canh, giống bắt đầu trổ bói sau trồng 8 tháng và cho thu hoạch sau trồng từ 13-15 tháng. Từ thực tế áp dụng anh Thành cũng thấy rằng, chuối cấy mô cho năng suất cao hơn 20-30% so với chuối trồng bằng cây con lấy từ gốc cây mẹ.

Theo TS Trần Ngọc Hùng - Trưởng bộ môn Công nghệ sinh học, Viện Nghiên cứu rau quả: “Sở dĩ giống cây tạo từ công nghệ nuôi cấy mô cho năng suất cao vì ngay từ khi tạo ra số lượng cây đồng đều và trải qua quá trình sàng lọc cây mẹ rất kỹ nên sức đề kháng với các loại bệnh tốt hơn, hình thức quả cũng đẹp hơn”.

Nói về kỹ thuật này, anh Thành cho biết, cây chuối khi mới đem về cao khoảng 5–10cm, trong năm đầu cây giống được tách từ cây mẹ, sau khi tách cây mẹ tiến hành gọt sạch hết rễ, sau 3-4 ngày đem trồng, bón lót vôi bột và lân đơn trong hố. Cứ khoảng 2 tháng cho bón lót một lần, kết hợp tưới nước đều đặn, thường xuyên cắt ngắn cây con, lá khô, cỏ dại, tuyệt đối không được bón các loại phân động vật. Khi buồng chuối ra hết nải nên ngắt hoa chuối, chọn thời tiết khô không mưa, gò buồng tạo vuông góc, chằng dây chống bão, trùm bao nylon nếu chuối trổ hoa vào tháng 9-10-11 âm lịch.

Để nâng cao hơn nữa năng suất cây chuối, anh Thành bắt đầu sản xuất chuối theo hướng VietGap từ cuối năm 2014. Đầu tư công nghệ nước tưới tự động, giàn phun mưa, nước được lấy từ độ sâu 40m không nhiễm chì, nhiễm sắt. Hệ thống này giúp giảm lượng phân bón, giảm công lao động mà hiệu quả lại cao. Trung bình 3 đến 4 ngày hệ thống tưới nước tự động lại được bật lên một lần. Khu xưởng sơ chế đóng gói chuối xuất khẩu với hệ thống xử lý bảo quản sơ chế hiện đại, những thùng chuối xếp đều và đẹp mắt. Đầu năm 2015, anh được cấp giấy chứng nhận sản xuất 30 hécta trồng chuối theo hướng VietGap, với 1.500 tấn chuối/năm.

Anh Thành chia sẻ: Ưu thế của giống chuối từ nuôi cấy mô đó là sạch bệnh, sinh trưởng khỏe, có thể trồng trên diện tích lớn, yêu cầu kỹ thuật chăm bón phải tốt, nếu không chăm bón đúng kỹ thuật, năng suất chuối cấy mô cũng chỉ bằng chuối trồng bằng cây con.
Anh Phạm Năng Thành  - “ông vua” chuối Hưng Yên. Ảnh: Loan Lê
Anh Phạm Năng Thành - “ông vua” chuối Hưng Yên. Ảnh: Loan Lê

Nhân rộng mô hình

Ông Nguyễn Văn Đạt – Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Khoái Châu - cho biết: “Với nhiều người dân ở Khoái Châu, cây chuối tiêu hồng mở ra hướng đi mới giúp nông dân thoát nghèo. Đây là giống cho năng suất cao, sinh trưởng khỏe, đạt 40-45 tấn/ha. Trung bình mỗi năm 1 sào chuối bỏ vốn và công chăm sóc hết khoảng 1,5 triệu đồng, thu về 15 đến 20 triệu đồng. Cần đẩy mạnh hơn nữa khâu sơ chế đóng gói và khai thác tốt thị trường nước ngoài”.

Hiện mô hình trồng chuối của vợ chồng anh Thành đang tạo công ăn việc làm cho hơn 30 lao động, với mức lương 5–6 triệu đồng/tháng mỗi người. Tới đây, anh Thành đang hướng tới trang trại sản xuất giống cấy mô. Anh sẵn sàng tư vấn kỹ thuật miễn phí và nhận bao tiêu chuối cho tất cả các hộ dân tại địa phương. Để chủ động kiểm soát kỹ thuật - đặc biệt là tránh dính tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, khi chuối bắt đầu trổ buồng, anh Thành “mua non” toàn bộ diện tích nếu hộ dân nào có nhu cầu bằng cách ứng trước 30% giá trị.

Nhìn thấy lợi nhuận cao từ việc trồng chuối từ nuôi cấy mô, hơn nữa nhu cầu của người dân ngày càng nhiều, anh Thành đã đăng ký hộ kinh doanh cá thể, tiến tới thành lập doanh nghiệp chuối 3T (Thuận Tâm Thành). Hiện nay, thương hiệu chuối 3T đã không còn xa lạ với người dân Hưng Yên, hầu hết các tỉnh miền Bắc đều nhập chuối của anh Thành. Không dừng lại ở việc cung cấp chuối cho thị trường nội địa mà anh Thành đang hướng tới xây dựng một thị trường lớn ở “trời tây”. Tự tin vào đầu ra, anh cho xuất khoảng 20 tấn chuối mỗi ngày - chủ yếu là các đối tác Nga, Malaysia, Hàn Quốc, các khối nước Arập...

Với dự định từng bước hình thành vùng sản xuất chuối tập trung quy mô lớn, quy trình sản xuất, công nghệ thu hoạch và đóng gói ngang tầm với các tập đoàn sản xuất chuối lớn trên thế giới..., tới đây anh Thành sẽ thành lập dự án để trình lên UBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt thầu quỹ đất giúp ổn định đầu tư công nghệ lên tới hàng trăm hécta. Bộ KH&CN, UBND tỉnh Hưng Yên đã phê duyệt cho thực hiện dự án “Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận “Chuối tiêu hồng Khoái Châu” với tổng kinh phí thực hiện 953,6 triệu đồng.

Mô hình này được nhiều tổ chức, hội viên nông dân ở các địa phương trong tỉnh đến tham quan, học tập kinh nghiệm. Với tinh thần cầu thị, ham học hỏi và mạnh dạn áp dụng những công nghệ mới, anh Nguyễn Năng Thành đã có được những “trái ngọt” nhờ khoa học kỹ thuật.
Nguồn: khoahocphattrien.vn
«Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối»